Cụ thể, bài Văn này viết "Trong các loại vợ: vợ sắp cưới, vợ mới cưới, vợ chưa cưới, vợ chuẩn bị cưới, em thích nhất là vợ nhặt, tác phẩm được sáng tác bởi nhà văn Kim Lân, lấy bối cảnh nạn đói khủng khiếp năm 1945 để viết truyện". Được biết, đây là Sau đó, đến khi có sách thì giáo viên thấy tên sách ghi là Tài liệu giáo dục địa phương. Vậy phải chăng đây chỉ là một tài liệu tham khảo, không phải sách chính thống như sách giáo khoa các môn khác? Gác băn khoăn đó sang 1 bên, giáo viên phải vội vàng soạn bài để lên Soạn bài Vợ nhặt trang 23 môn Ngữ văn lớp 12 (ngắn gọn) - Kim Lân. 6; Bài tập SGK hình học 6; Bài tập SGK Sinh 6; Bài tập Sách giáo khoa Lý 6; Sách bài tập lớp 6; Khảo sát chất lượng lớp 6 biến tâm trạng và hành động của các nhân vật trong tác phẩm. Câu 3: - Hai Vợ Nhặt. Tác giả: Kim Lân. Thể loại: Truyện Ngắn. Biên tập: Little Rain. Upload bìa: Dinh Hoang Minh. Số chương: 1. Phí download: 1 gạo. Nhóm đọc/download: 0 / 1. Số lần đọc/download: 125493 / 1273. Vợ nhặt là tác phẩm tiêu biểu và thành công của Kim Lân khi viết về đề tài người nông dân trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Một nhân vật tiêu biểu trong tác phẩm chính là nhân vật bà cụ Tứ. II. Thân bài - Lúc đầu băn khoăn, lo lắng . Home » stories » Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 12 Tập 2 Nâng Cao » Vợ nhặt 88225 Views 0 Vợ nhặt ⬅ Chương Trước Chương Tiếp ➡ Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 12 Tập 2 Nâng Cao Vợ nhặt Chương trước Chương tiếp Sách Luyện Thi Toán Sách Luyện Thi Vật Lý Sách Luyện Thi Hóa Học Sách Luyện Thi Sinh Học Sách Luyện Thi Tiếng Anh Sách Luyện Thi Ngữ Văn Sách Luyện Thi Địa Lý Sách Luyện Thi Lịch Sử Sách Luyện Thi Giáo Dục Công Dân Sách Giáo Khoa Lớp 12 Sách Giải Bài Tập Lớp 12 Văn Mẫu Lớp 12 Sách Giáo Viên Lớp 12 SÁCH LỚP 12 XEM NHIỀU Lớp 12 Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 12 Tập 1 Cơ Bản Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 12 Tập 1 Cơ Bản - Nhiều Tác Giả Lớp 12 Sách Giáo Khoa Tin Học 12 Sách Giáo Khoa Tin Học 12 - Nhiều Tác Giả Lớp 12 Sách Giáo Khoa Tiếng Anh 12 Cơ Bản Sách Giáo Khoa Tiếng Anh 12 Cơ Bản - Nhiều Tác Giả Lớp 12 Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 12 Tập 2 Cơ Bản Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 12 Tập 2 Cơ Bản - Nhiều Tác Giả Show next STORY LỚP 12 XEM NHIỀU​ Lớp 12 Vợ nhặt Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 12 Tập 2 Nâng Cao - Vợ nhặt Lớp 12 Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 12 Tập 2 Cơ Bản – Vợ chồng A Phủ Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 12 Tập 2 Cơ Bản - Vợ chồng A Phủ Lớp 12 Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 12 Tập 2 Cơ Bản – Chiếc thuyền ngoài xa Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 12 Tập 2 Cơ Bản - Chiếc thuyền ngoài xa Lớp 12 Sách Giáo Khoa Lịch Sử Lớp 12 Cơ Bản – Bài 1 Sự hình thành trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ hai 1945 – 1949 Sách Giáo Khoa Lịch Sử Lớp 12 Cơ Bản - Bài 1 Sự hình thành trật tự thế giới mới sau ... Show next We will be happy to hear your thoughts Leave a reply Save my name, email, and website in this browser for the next time I comment. vạ NHẶT KIM LÂN KẾT QUẢ CẦN ĐẠT Hiểu được tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra. Cảm nhận được niềm khát khao tổ ấm gia đình, niềm tin vào cuộc sống và tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau giữa những con người nghèo khổ ngay trên bờ v,ực của cái chết. Nắm được những nét đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm trong việc tạo dựng tình huống truyện, miêu tả tâm lí, dựng đối thoại. Kim Lân 1920 - 2007, tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ được học hết tiểu học, rồi vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong vừa viết văn. Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội Văn hoá cứu quốc, sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng viết văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim. Tác phẩm chính Nện vợ nên chồng tập truyện ngắn, 1955, Con chó xấu xí tập truyện ngắn, 1962. Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn, ông thường viết về nông thôn và người nông dân. Ông có những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê - những thú chơi và sinh hoạt văn hoá cổ truyền của người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, được gọi là những “thú đồng quê”, “phong lưu đồng ruộng” như chơi núi non bộ, thả chim, đánh vật, chọi gà,... ông viết chân thật, xúc động về cuộc sống và người dân quê mà ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí của họ - những con người gắn bó tha thiết với quê hương và cách mạng. Dù viết về phong tục hay con người, trong tác phẩm của Kim Lân ta vẫn thấy thấp thoáng cuộc sống và con người của làng quê Việt Nam nghèo khổ, thiếu thốn mà vẫn yêu đời; thật thà, chặt phác mà thông minh, hóm hỉnh, tài hoa. Năm 2001 Kim Lân được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Vợ nhật là trưỳện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân in trong tập Con chó xấu xí 1962. Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư - được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng dang dở và thất lạc bản thảo. Sau khi hoà bình lập lại 1954, ông dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này. * * * • VÁN BẢN Lược phần đầu Trước kia mỗi chiều đi làm về, Tràng chỉ đi một mình, anh thường đùa vui với lũ trẻ trong xóm ngụ cư. Nhưng độ này, trên đường về nhà, người ta thấy anh tỏ ra mỏi mệt, vẻ mặt đăm chiêu, lo lắng và lũ trẻ cũng ủ rũ, không buồn ra đón anh nữa.} Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng m,a, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người. Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều người trong xóm bỗng thấy Tràng về vói một người đàn bà nữa. Mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh. Người đàn bà đi sau hắn chừng ba bốn bước. Thị cắp cái thúng con, đầu hoi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén, e thẹn. Mấy đứa trẻ con thấy lạ vội chạy ra đón xem. Sợ chúng nó đùa như ngày trước, Tràng vội vàng nghiêm nét mặt, lắc đầu ra hiệu không bằng lòng. Mấy đứa trẻ đứng dừng lại, nhìn Tràng, đột nhiên có đứa gào lên Anh Tràng oi ! - Tràng quay đầu lại. Nó lại cong cổ gào lên lần nữa - Chông vợ hài Chông vợ hài nói lái hai vợ chồng. . Tràng bật cười Bố ranh! Người đàn bà có vẻ khó chịu lắm. Thị nhíu đôi lông mày lại, đưa tay lên xóc xóc lại tà áo. Ngã tư xóm chợ về chiều càng xác xơ, heo hút. Từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Hai bên dãy phố, úp súp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết. 1 Nhìn theo bóng Tràng và bóng người đàn bà lủi thủi đi về bến, người trong xóm lạ lắm. Họ đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán. Hình như họ cũng hiểu được đôi phần. Những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên. Có cái gì lạ lùng và tưoi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ. Một người thở dài. Người khác khẽ thì thầm hỏi Ai đấy nhỉ ?... Háy là người dưới quê bà cụ Tứ mới lên ? Chả phải, từ ngày còn mồ ma ông cụ Tứ Luc ông cụ Tứ còn sống. 1 Liên đoàn một tổ chức thu gom thóc cho phát xít Nhật ở nước ta trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. có thấy họ mạc nào lên thăm đâu. Quái nhỉ ? Im một lúc, có người bỗng lại cười lên rung rúc. Hay là vợ anh cu Tràng ? ừ, khéo mà vợ anh cu Tràng thật anh em ạ, trông chị ta thèn thẹn hay đáo để. Ôi chao ! Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không ? Họ cùng nín lặng. Người đàn bà như cũng biết xung quanh người ta đang nhìn dồn cả về phía mình, thị càng ngượng nghịu, chân nọ bước díu cả vào chân kia. Hắn cũng biết thế, nhưng hắn lại lấy vậy làm thích ý lắm, cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình. Lược một đoạn Trên đường về nhà, ngitời đàn bà thì ngượng nghịu, còn Tràng thì tỏ ra thích chí và tự đắc. Thỉnh thoảng họ nói với nhau những lời vụng về, lúng túng. Thị lẳng lặng theo hắn vào trong nhà, cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại. Thị đảo mắt nhìn xung quanh, cái ngực gầy lép nhô lên, nén một tiếng thở dài. Tràng xăm xăm bước vào trong nhà, nhấc tấm phên rách sang một bên, thu dọn những niêu bát, xống áo vứt bừa bộn cả trên giường, dưới đất. Hắn quay lại nhìn thị cười cười Không có người đàn bà, nhà cửa thế đấy! Thị nhếch mép cười nhạt nhẽo. Tràng vỗ vỗ xuống giường đon đả Ngồi đây!... Ngồi xuống đây, tự nhiên... Người đàn bà theo lời hắn ngồi móm xuống mép giường. Cả hai bỗng cùng ngượng nghịu. Tràng đứng tây ngây ra giữa nhà một lúc, chợt hắn thấy sờ sợ. Chính hắn cũng không hiểu sao hắn sợ, hắn lấm lét bước vội mấy bước ra sân gắt lên Sao hôm nay bă lão về muộn thế không biết! Hắn loanh quanh hết chạy ra ngõ đứng ngóng, lại chạy vào sân nhìn trộm vào trong nhà. Thị vẫn ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần. Hắn nghĩ bụng “Quái sao nó lại buồn thế nhỉ ?... ô sao nó lại buồn thế nhỉ ?...”. Hắn nhổ vu vơ một bãi nước bọt, tủm tỉm cười một mình. Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư ? Hà! Việc xảy ra thật hắn cũng không ngờ, hắn cũng chỉ tầm phơ tầm phào đâu có hai bận, ấy thế mà thành vợ thành chồng... ít lâu nay hắn xe thóc Liên đoàn1’ lên tỉnh. Mỗi bận qua cửa nhà kho lại thấy mấy chị con gái ngồi vêu ra ở đấy. Hắn đoán họ ngồi đấy nhặt hạt rơi hạt vãi, hay ai có công việc gì gọi đến thì làm. Một lần hắn đang gò lưng kéo cái xe bò thóc vào dốc tỉnh, hắn hò một câu choi cho đỡ nhọc. Hắn hò rằng Muốn ăn cơm trắng mấy giò này! Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì! Chủ tâm hắn cũng chẳng có ý chòng ghẹo cô nào, nhưng mấy cô gái lại cứ đẩy vai cô ả này ra với hắn, cười như nắc nẻ Kìa anh ấy gọi! Có muốn ăn cơm trắng mấy giò thì ra đẩy xe bò với anh ấy! Thị cong cớn Có khối cơm trắng mấy giò đấy! Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy ? Tràng ngoái cổ lại vuốt mồ hôi trên mặt cười Thật đấy, có đẩy thì ra mau lên! Thị vùng đứng dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng. Đã thật thì đẩy chứ sợ gì, đằng ấy nhỉ. - Thị liếc mắt, cười tít. Tràng thích lắm. Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế. Lần thứ hai, Tràng vừa trả hàng xong, ngồi uống nước ở ngoài cổng chợ tỉnh thì thị ở đâu sầm sập chạy đến. Thị đứng trước mặt hắn sưng sỉa nói ' - Điêu ! Người thế mà điêu ! Hắn giương mắt nhìn thị, không hiểu. Thật ra lúc ấy hắn cũng chưa nhận ra thị là ai. Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt. Hôm ấy leo lẻo cái mồm hẹn xuống, thế mà mất mặt. À, hắn nhớ ra rồi, hắn toét miệng cười. Chả hôm ấy thì hôm nay vậy. Này hẵng ngồi xuống ăn miếng giầu đã. Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu. Thị vẫn đứng cong cớn trước Đấy, muốn ăn gì thì ăn. Hắn vỗ vỗ vào túi. Rích bố cu’11, hở! Hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên, thị đon đả Ăn thật nhá! ừ ăn thì ăn sợ gì. Thế là thị ngồi sà xuống, ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì. Ăn xong thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng, thở Hà, ngon! về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố. Hắn cười Làm đếch gì có vợ. Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về. Nói thế Tràng cũng tưởng là nói đùa, ai ngờ thị về thật. Mới đầu anh chàng cũng chựn, nghĩ thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng’21. Sau không biết nghĩ thế nào hắn tặc lưỡi một cái Chậc, kệ! - Hôm ấy hắn đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa thật no nê rồi cùng đẩy xe bò về... Tràng chợt đứng dừng lại, lắng tai nghe. Ngoài đầu ngõ có tiếng người húng hắng ho, một bà lão từ ngoài rặng tre lọng khọng đi vào. Bà lão vừa đi Rích bố cu tiếng Pháp bồi, ghép từ riche giàu có và beaucoup nhiều nhiều tiền. Đèo bòng mang thêm, vướng bận thêm vào mình một cái gì khó gỡ ra được. vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng. Thấy mẹ, Tràng reo lên như một đứa trẻ, và gọi với vào trong nhà u đã về đấy! Hắn lật đật chạy ra đón. Hôm nay sao u về muộn thế! Làm tôi đợi nóng cả ruột. ốà cụ Tứ nhấp nháy hai con mắt nhìn Tràng, chậm chạp hỏi Có việc gì thế vậy ? Thì u hẵng cứ vào trong nhà đã nàò. Bà lão phấp phỏng bước theo con vào trong nhà. Đến giữa sân bà lão đứng sững lại, bà lão càng ngạc nhiên hon. Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia ? Sao lại chào mình bằng u ? Không phải con cái Đục mà. Ai thế nhỉ ? Bà lão hấp háy cặp mắt cho. đỡ nhoèn vì tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn ra thì phải. Bà lão nhìn kĩ người đàn bà lần nữa, vẫn chưa nhận ra người nào. Bà lão quay lại nhìn con tỏ ý không hiểu. Tràng tưoi cười Thì u hẵng vào ngồi lên giường lên giếc chình chện cái đã nào. Bà lão lập cập bước vào. Người đàn bà tưởng hà lão già cả, điếc lác, thị cất tiếng chào lần nữa u đã về ạ! Ô hay, thế là thế nào nhỉ ? Bà lão băn khoăn ngồi xuống giường. Tràng nhắc mẹ Kìa nhà tôi nó chào u. Thấy mẹ vẫn chưa hiểu, hắn bước lại gần nói tiếp Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau... Chẳng qua nó cũng là cái số cả... Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì... Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt... Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không. Bà lão khẽ thở dài ngửng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà. Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt. Bà lão nhìn thị và bà nghĩ Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, ngươi ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được... Thôi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con... May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn Tao đoạn từ cổ thời buổi, giai đoạn. này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giòi bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được ? Bà lão khẽ đặng hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói với “nàng dầu mới” ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng... Tràng thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi. Hắn ho khẽ một tiếng, bước từng bước dài ra sân. Bà cụ Tứ vẫn từ tốn tiếp lời. Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông giời cho khá... Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời ? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau. Bà lão đăm đăm. nhìn ra ngoài. Bóng tối trùm lấy hai con mắt. Ngoài xa dòng sông sáng trắng uốn khúc trong cánh đồng tối. Mùi đốt đống rấm Ở đây, những nhà có người chết, vì quá nghèo - không có tiền mua hưong, đã đốt đống rấm cốt có khói để xua đi tử khí. ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt. Bà lão thở nhẹ ra một hơi dài. Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út. Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình. Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không ?... Con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân. Bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót. Nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi. Người đàn bà khẽ nhúc nhích, thị vẫn khép nép đứng nguyên chỗ cũ. Bà lão hạ thấp giọng xuống thân mật Kể có ra làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai người ta chấp nhặt chi cái lúc này. cốt làm sao chúng mày hoà thuận là u mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá... Bà cụ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng. Lược một đoạn Cảnh gia đình trước lúc đi ngủ ; vọ chồng Tràng sượng sùng chẳng biết nói gì; có tiếng hờ khóc vẵng đến từ phía những nhà có người chết đói. Sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy. Trong người, êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra. Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải. Hắn chắp hai tay sau lưng lững thững bước ra sân. Ánh nắng buổi sáng mùa hè sáng loá xói vào hai con mắt còn cay sè của hắn. Hắn chóp chop liên hồi mấy cái, và bỗng vừa chợt nhận ra, xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mói mẻ, khác lạ. Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên11’ ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang Khươm mươi niên khẩu ngữ lâu, nhiều năm; ở đây ý nói quần áo để lâu không giặt giũ, phoi phóng. Ang đồ đựng nước bằng gốm. nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch. Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất. Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thìa cảm động. Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mói thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này. Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà. Bà cụ Tứ chợt thấy con giai đã dậy, bà lão nhẹ nhàng bảo nàng dâu Anh ấy dậy rồi đấy. Con đi dọn cơm ăn chẳng muộn. Vâng. Người đàn bà lẳng lặng đi vào trong bếp. Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn Chao chát chóng lỏn nói năng đanh đá, chua ngoa trái nghĩa với dịu dàng, lễ phép. như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh. Không biết có phải vì mói làm dâu mà thị tu chí làm ăn không ? Bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên. Bà lão xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa. Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn. Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại. Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành, Bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh vói con dâu. Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng-về sau này Tràng ạ. Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem... Tràng chỉ vâng. Tràng vâng rất ngoan ngoãn. Chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại đầm ấm, hoà họp như thế. Câu chuyện trong bữa ăn đang đà vui bỗng ngừng lại. Niêu cháo lõng bông, mỗi người được có lưng lưng hai bát đã hết nhẵn. Bà lão đặt đũa bát xuống, nhìn hai con vui vẻ Chúng m ày đợi u nhá. Tao có cái này hay lắm cơ. Bà lão lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút. Bà lão đặt cái nồi xuống bên cạnh mẹt cơm, cầm cái môi vừa khuấy khuấy vừa cười Chè đây. - Bà lão múc ra một bát - Chè khoán' Chè khoán một thứ chè ngon, nấu bằng đậu xanh đãi sạch vỏ thật nhuyễn ; đây là cách gọi của vùng quê Kim Lân, những noi khác gọi là chè kho. ’ đây, ngon đáo để cơ. Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại. Thị điềm nhiên và vào miệng. Tràng cầm cái bát thứ hai mẹ đưa cho, người mẹ vẫn tươi cười, đon đả Cám đấy mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy. Tràng cầm đôi đũa, gựt một miếng bỏ vội vào miệng. Mặt hắn chun ngay lại, miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ. Bữa cơm từ đấy không ai nói câu gì, họ cắm đầu ăn cho xong lần, họ tránh nhìn mặt nhau. Một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi người. Ngoài đình bỗng dội lên một hồi trống, dồn dập, vội vã. Đàn quạ trên những cây gạo cao chót vót ngoài bãi chợ hốt hoảng bay vù lên, lượn thành từng đám bay vẩn trên nền trời như những đám mây đen. Người con dâu khẽ thở dài, thị nói lí nhí trong miệng Trống gì đấy, u nhỉ ? Trống thúc thuế đấy. Đằng thì nó bắt giồng đay, đằng thì nó bắt đóng thuế. Giời đất này không chắc đã sống qua được đâu các con ạ... - Bà lão ngoảnh vội ra ngoài. Bà lão không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc. Người con dâu có vẻ lạ lắm, thị lẩm bẩm Ở đây vẫn phải đóng thuế cơ à ? Im lặng một lúc thị lại tiếp Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật, chia cho người đói nữa đấy. Tràng thần mặt ra nghĩ ngợi. Cái mặt to lớn bặm lại, khó đăm đăm. Miếng cám ngậm trong miệng hắn đã bã ra chát xít... Hắn đang nghĩ đến những người phá kho thóc Nhật. Tràng hỏi vội trong miếng ăn Việt Minh phải không ? ừ, sao nhà biết ? Tràng không trả lời. Trong ý nghĩ của hắn vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp. Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm. Hôm ấy hắn láng máng nghe người ta nói họ là Việt Minh 'đấy. Họ đi cướp thóc đấy. Tràng không hiểu gì sợ quá, kéo vội xe thóc của Liên đoàn tắt cánh đồng đi lối khác. À ra họ đi phá kho thóc chia cho người đói. Tự dưng hắn thấy ân hận, tiếc rẻ vẩn vơ, khó hiểu. Ngoài đình tiếng trống thúc thuế vẫn dồn dập. Mẹ và vợ Tràng đã buông đũa đứng dậy. Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới... [Truyện ngắn Việt Nam 1945 -1985, NXB Giáo dục, 1985 HƯỚNG DẨN HỌC BÀI Dựa vào mạch truyện, có thể chia tác phẩm thành mấy đoạn ? Nêu ý chính của mỗi đoạn và cho biết mạch truyện đã được dẫn dắt như thế nào. Vì sao người dân xóm ngụ cư lại ngạc nhiên khi thấy anh Tràng đi cùng với một người đàn bà lạ về nhà ? Sự ngạc nhiên của dân làng, của bà cụ Tứ, và của chính Tràng nữa cho thấy tác giả đã sáng tạo được một tình huống truyện độc đáo như thế nào ? Tình huống truyện đó có tác dụng gì đối với nội dung, ý nghĩa của tác phẩm ? Dựa vào nội dung truyện, giải thích nhan đề Vợ nhặt. Qua hiện tượng “nhặt được vợ” của Tràng, anh chị hiểu gì về tình cảnh và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 ? Kim Lân đã có những phát hiện tinh tế và sâu sắc như thế nào khi thể hiện niềm khao khát tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng lúc quyết định lấy vợ, khi dẫn vợ về qua xóm ngụ cư và nhất là trong buổi sáng đầu tiên sau khi có vợ ? Phân tích tậm trạng buồn vui xen lẫn của bà cụ Tứ. Qua đó, anh chị hiểu gì về tấm lòng của bà mẹ nông dân này ? Tìm hiểu nghệ thuật viết truyện ngắn của Kim Lân cách kể chuyện hấp dẫn, cách dựng cảnh gây ấn tượng với nhiều chi tiết đặc sắc, đối thoại sinh động, miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, sử dụng ngôn ngữ nông thôn nhuần nhị, tự nhiên. - G HI N H Ớ Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không chỉ miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà còn thể hiện được bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ ngay trên bờ vực của cái chết, họ vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Nội dung nhân đạo sâu sắc và cảm động đó được thể hiện qua một tình huống truyện độc đáo, cách kể chuyện hấp dẫn, miêu tả tâm lí khá tinh tế, dựng đối thoại sinh động. LUYỆN TẬP Đoạn văn nào, chi tiết nào của tác phẩm gây xúc động và để lại ấn tượng sầu sắc nhất cho anh chị ? Vì sao ? Phân tích ý nghĩa đoạn kết của tác phẩm. A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM 1. Tác giả Kim Lân 1920-2007, tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xã Tâm Hồng ,huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ được học hết tiểu học, rồi vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong vừa viết văn. Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội văn hóa cứu quốc, sau đó liên tục hoạt động văn hóa cứu quốc, sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng Tác phẩm chính Nên vợ nên chồng truyện ngắn 1955, Con chó xấu xí tập truyện ngắn, 1962 Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn, ông thường viết về nông thôn và người nông dân. Ông có những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê - những thú chơi và sinh hoạt văn hóa cổ truyền của người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ được gọi là những "thú đồng quê", "phong lưu đồng ruộng" như chơi núi non bộ, thả chim, đánh vật, chọi gà,... Ông viết chân thật mà sâu sắc về cảnh làng quê mà ông hiểu sâu sắc và tâm lí của họ - những con người gắn bó tha thiết với quê hương và cách mạng. Năm 2001, Kim Lân được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật 2. Tác phẩm Tác phẩm Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân in trong tập Con chó xấu xí 1962. Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết xóm ngụ cư - được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng đang giang dở và bị thất lạc bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại 1954 ông dựa vào một phần cốt truyện để viết truyện ngắn này Tóm tắt tác phẩm Vợ nhặt là tác phẩm kể về nhân vật Tràng sống trong nạn đói năm 1945, một thời kì khủng khiếp, người chết chất đống còn người sống thì như những bóng ma. Tràng, một người nông dân nghèo, xấu xí, ế vợ lại dở hơi, làm nghề kéo xe bò thuê và nuôi một người mẹ già. Một hôm, Tràng dẫn về nhà một người phụ nữ đang lâm vào hoàn cảnh đói rách cùng đường. Tràng có vợ vô cùng đột ngột và bất ngời, chỉ từ một câu nói đùa, và bữa ăn là bốn bán bánh đúc, người phụ nữ đó đã ưng thuận theo Tràng về mà không cần bất kì cái gì. Mẹ Tràng- bà cụ Tứ và cả cái xóm ngu cư vô cùng ngặc nhiên. Bà cú Tứ đón nhận người con dâu với một tâm trạng buồn có, lo có nhưng cũng vừa vui, vừa hi vọng, chấp nhận mà không một lời trách hay tỏ thái độ chê bai người phụ nữ đó. Buổi sáng đầu tiên đón con dâu, bà cụ Tứ chuẩn bị một bữa cháo kèm theo là nồi chè cám nhưng trong đó là cả một tấm lòng của người mẹ già. Nhìn cảnh người phụ và mẹ dọn dẹp, quét tước và bữa cơm gia đình, Tràng như trở thành một người đàn ông có trách nhiệm hơn và thấy gắn bó với gia đình hơn. Tiếng trống thúc thuế vang lên, cùng lời kể về Việt Minh của vợ, trong đầu Tràng hiện lên hình ảnh người người cùng nhau, kéo nhau đi phá kho thóc Nhật, và lá cờ đỏ bay phất phới khắp nơi. Bài tập & Lời giải Câu 1 Trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2Dựa vào mạch truyện, có thể chia tác phẩm thành mấy đoạn? Nêu ý chính của mỗi đoạn và cho biết mạch truyện đã được dãn dắt như thế nào? Xem lời giải Câu 2 Trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2Vì sao người dân xóm ngụ cư lại ngạc nhiên khi thấy anh Tràng đi cùng với một người đàn bà lạ về nhà? Sự ngạc nhiên của dân làng, của bà cụ Tứ và chính Tràng nữa cho thấy tác giả đã sáng tạo được một tình huống truyện độc đáo như thế nào? Tình huống truyện có tác dụng gì đối với nội dung, ý nghĩa của tác phẩm? Xem lời giải Câu 3 Trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2Dựa vào nội dung truyện giải thích nhan đề vợ nhặt. Qua hiện tượng nhặt được vợ của Tràng anh chị hiểu gì về tình cảnh và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945? Xem lời giải Câu 4 Trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2Kim Lân đã có những phá hiện tinh tế và sâu sắc như thế nào khi thể hiện niềm khát khao tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng lúc quyết định lấy vợ, khi dẫn vợ về qua xóm ngụ cư và nhất là trong buổi sáng đầu tiên sau khi có vợ? Xem lời giải Câu 5 Trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2Phân tích tâm trạng buồn vui xen lẫn của bà cụ Tứ. Qua đó anh chị hiểu gì về tam lòng của bà mẹ nông dân này? Xem lời giải Câu 6 Trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2Tìm hiểu nghệ thuật viết truyện ngắn của Kim Lân cách kể chuyện hấp dẫn, các dựng cảnh gây ấn tưởng với nhiều chi tiết đặc sắc, đối thoại sinh động, miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, sử dụng ngôn ngữ nông thôn nhuần nhị, tự nhiên. Xem lời giải Phần Luyện tậpCâu 1 Luyện tập trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2Đoạn văn nào, chi tiết nào của tác phẩm gây xúc động và để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho anh chị? Vì sao? Xem lời giải Câu 2 Luyện tập trang 33 sgk ngữ văn 12 tập 2Phân tích ý nghĩa đoạn kết của tác phẩm. Xem lời giải Phần tham khảo, mở rộngCâu 1 Phân tích truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân trong chương trình văn 12 Xem lời giải Câu 2 Cảm nhận về nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn “Vợ nhặt” Kim Lân Xem lời giải Câu 3 Anh/ chị hãy phân tích tâm trạng nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân. Xem lời giải Câu 4 Phân tích giá trị độc đáo của tình huống truyện Vợ Nhặt trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Kim Lân. Từ đó nhận xét về thái độ của nhà văn với con người và thực trạng xã hội đương thời. Xem lời giải Câu 5 Giá trị nội dung và nghệ thuật trong Vợ nhặt của Kim Lân Xem lời giải Câu 6. Cảm nhận về nhân vật Tràng trong tác phẩm “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân. Xem lời giải Câu 7 Ai đó đã từng nói “Văn chương có hai loại, một loại đáng thờ và một loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chú ở văn chương, loại đáng thờ là loại chú ở con người”; hãy phân tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân để làm rõ luận điểm đó. Xem lời giải Phần tham khảo mở rộngCâu 1Trình bày những nội dung chính trong bài Vợ nhặt. Bài học nằm trong chương trình ngữ văn 12 tập 2. Xem lời giải 1. Tìm hiểu chung a. Tác giả Kim Lân Tên khai sinh Nguyễn Văn Tài 1920- 2007. Quê làng Phù Lưu, tỉnh Bắc Ninh. Kim Lân là cây bút truyện ngắn. Thế giới nghệ thuật của ông thường là khung cảnh nông thôn, người nông dân. Ngoài viết văn ông còn làm báo, diễn kịch, đóng phim. Tác phẩm chính Nên vợ nên chồng 1955, Con chó xấu xí 1962. Năm 2001, ông được trao giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. b. Truyện ngắn Vợ nhặt Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác “Vợ nhặt” viết năm 1955 được in trong tập truyện ngắn “Con chó xấu xí” 1962. Truyện ngắn có tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” tác phẩm viết sau CMT8 nhưng còn dang dở và bị mất bản thảo. Sau khi hoà bình lập lại 1954 tác giả dựa vào cốt truyện cũ đặt tên là Vợ nhặt. Bố cục 4 phần Ý nghĩa nhan đề “Vợ nhặt” Nhan đề đã thâu tóm giá trị nội dung tư tưởng tác phẩm. Từ nhan đề ta thấy thân phận con người bị rẻ rúng như cái rơm, cái rác, có thể “nhặt” ở bất kì đâu, bất kì lúc nào. Người ta hỏi vợ, cưới vợ, còn ở đây Tràng “nhặt” vợ. Đó thực chất là sự khốn cùng của hoàn cảnh. 2. Đọc- hiểu văn bản a. Tình huống truyện độc đáo Tràng là một chàng trai sống ở xóm ngụ cư nghèo mà lại xấu xí, thô kệch lấy được vợ giữa nạn đói khủng khiếp nhất lịch sử. Tình huống Tràng nhặt được vợ đã làm cho mọi người vô cùng ngạc nhiên Trẻ con xóm ngụ cư ngạc nhiên. Người lớn cũng ngạc nhiên. Mẹ của Tràng cũng ngạc nhiên. Bản thân Tràng cũng không ngờ được, cứ ngỡ ngàng như không phải -> một tình huống éo le, giàu kịch tính, rất độc đáo. Giá trị hiện thực tố cáo tội ác của thực dân Pháp, phát xít qua bức tranh xám xịt về thảm cảnh chết đói. Giá trị nhân đạo Tình nhân ái cưu mang đùm bọc lẫn nhau, khát vọng hướng tới cuộc sống và hạnh phúc. Trong bối cảnh bi thảm, giá trị nhân bản không mất đi, con người vẫn muốn cứ được là con người. b. Diễn biến tâm trạng các nhân vật Người vợ nhặt Là cô gái không tên, không gia đình, quê hương, bị cái đói đẩy ra lề đường có số phận nhỏ nhoi, đáng thương. Thị theo Tràng sau lời nói nửa đùa nửa thật để chạy trốn cái đói. Cái đói đã làm thị trở nên chao chát, đanh đá, liều lĩnh, đánh mất sĩ diện, sự e thẹn, bản chất dịu dàng. Nhưng vẫn là người phụ nữ có tư cách Trên đường theo Tràng về, cái vẻ “cong cớn” biến mất, chỉ còn người phụ nữ xấu hổ, ngượng ngừng và cũng đầy nữ tính. Thị ra mắt mẹ chồng trong tư thế khép nép và tâm trạng lo âu, băn khoăn, hồi hộp. Thị có sự thay đổi khi tìm thấy sự ấm áp của gia đình Trở thành một người vợ đảm đang. Người con dâu ngoan khi tham gia công việc nhà chồng một cách tự nguyện, chăm chỉ. Chính chị cũng thắp lên niềm tin và hi vọng trong hoàn cảnh tối tăm đó người đói. => Góp phần tô đậm hiện thực nạn đói và đặc biệt là giá trị nhân đạo của tác phẩm dù trong hoàn cảnh nào, người phụ nữ vẫn khát khao một mái ấm gia đình hạnh phúc. Nhân vật Tràng Có vẻ ngoài thô kệch, xấu xí, thân phận nghèo hèn,… Nhưng có tấm lòng hào hiệp, nhân hậu sẵn lòng cho người đàn bà xa lạ một bữa ăn giữa lúc nạn đói, sau đó đưa về đùm bọc, cưu mang. Lúc đầu Tràng cũng có chút phân vân, lo lắng “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”. Nhưng rồi, sau một cái “tặc lưỡi”, Tràng quyết định đánh đổi tất cả để có được người vợ, có được hạnh phúc -> Sự khao khát hạnh phúc lứa đôi. Quyết định giản đơn nhưng chứa đựng tình thương đối với người gặp cảnh khốn cùng. Trên đường về Tràng không cúi xuống lầm lũi như mọi ngày mà “phởn phơ” khác thường. Anh rất vui, lòng lâng lâng khó tả “Hắn tủm tỉm cười một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. “Lúng ta lúng túng, tay nọ xoa xoa vào vai bên kia người đàn bà”. Dường như quên đi cảnh sống ê chề, tối tăm; quên đi cái đói đang đe dọa,… khi có sự xuất hiện của người vợ nhặt. Buổi sáng đầu tiên có vợ Tràng cảm nhận có một cái gì mới mẻ êm ái, lơ lửng như trong mơ Tràng thay đổi hẳn Thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của mình một cách lạ lùng. Cảm thấy nên người, thấy mình phải có bổn phận lo lắng cho gia đình. Biết hướng tới một cuộc sống tương lai tốt đẹp hơn. => Những con người đói khát gần kề cái chết vẫn khao khát hạnh phúc gia đình, vẫn cưu mang đùm bọc lẫn nhau và luôn có niềm tin vào tương lai. Bà cụ Tứ Một bà lão già nua, ốm yếu, lưng khòng vì tuổi tác. Tâm trạng bà cụ Tứ Khi nhận thấy thái độ vồn vã khác thường của con phấp phỏng, lo âu. Ngạc nhiên hơn khi nghe tiếng người đàn bà xa lạ chào mình bằng u. Sau lời giãi bày của Tràng, bà cúi đầu nín lặng, không nói và hiểu ra. Trong lòng chất chứa biết bao suy nghĩ Buồn tủi khi nghĩ đến thân phận của con phải lấy vợ nhặt. Lo vì đói, vợ chồng nó có sống qua nổi cái nạn đói này ko. Thương cho người đàn bà khốn khổ cùng đường mới lấy đến con trai mình mà không tính đến nghi lễ cưới. Tủi vì chưa hoàn thành bổn phận người mẹ lo vợ cho con trai. Lo lắng khi nghĩ đến tương lai của con. Nén vào lòng tất cả, bà dang tay đón người đàn bà xa lạ làm con dâu mình Từ tốn căn dặn nàng dâu mới -> Xót thương, lo lắng cho cảnh ngộ của dâu con. Bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới Rạng rỡ hẳn lên. Cùng với nàng dâu, bà thu dọn, quét tước nhà cửa. Bữa cơn ngày đói thật thảm hại nhưng “cả nhà ăn rất ngon lành”. Bà toàn nói đến chuyện tương lai, chuyện vui, chuyện làm ăn với con dâu -> tìm mọi cách để nhen nhóm niềm tin, niềm hi vọng cho các con. => Bà là một người mẹ có tấm lòng nhân hậu, bao dung, đầy hi sinh, tiêu biểu của người mẹ nghèo VN. c. Nghệ thuật Xây dựng tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn. Cách kể chuyện tự nhiên, lôi cuốn, hấp dẫn Cách dẫn dắt câu chuyện tự nhiên, giản dị, chặt chẽ. Khéo léo làm nổi bật sự đối lập giữa hoàn cảnh và tính cách nhân vật. Dựng cảnh chân thật, sinh động, đặc sắc cảnh chết đói, cảnh bữa cơm ngày đói,… Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế nhưng bộc lộ tự nhiên, chân thật. Ngôn ngữ nông thôn mộc mạc, giản dị, gần với khẩu ngữ nhưng được chọn lọc kĩ, toạ nên sức gợi. Trang trước Trang sau Trang trước Trang sau Giới thiệu Năm xuất bản 2019 Loại sách Sách giáo khoa Đọc toàn màn hình Tải sách Thông tin Bản quyền Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Năm xuất bản 2019 Số trang 217 trang Nguồn Hành trang số - NXB Giáo dục Tác giả Gợi ý cho bạn Ngữ văn 12 - Tập hai 217 trang Ngữ văn 12 - Tập một 225 trang Ngữ văn 12 - Tập một - Nâng cao 257 trang Ngữ văn 12 - Tập hai - Nâng cao 226 trang Sách scan Lớp 12 Hóa học 12 210 trang Hình học 12 113 trang Lịch sử 12 226 trang Ngữ văn 12 - Tập hai 217 trang Địa lí 12 210 trang Công nghệ 12 122 trang Giải tích 12 160 trang Sinh học 12 162 trang Giáo dục công dân 12 120 trang Giáo dục quốc phòng 12 105 trang Ngữ văn 12 - Tập một 225 trang Vật lí 12 234 trang Giải tích 12 - Nâng cao 231 trang Hình học 12 - Nâng cao 145 trang Ngữ văn 12 - Tập một - Nâng cao 257 trang Ngữ văn 12 - Tập hai - Nâng cao 226 trang Lịch sử 12 - Nâng cao 299 trang Địa lí 12 - Nâng cao 258 trang Sinh học 12 - Nâng cao 279 trang Vật lí 12 - Nâng cao 330 trang Hóa học 12 - Nâng cao 282 trang Tin học 12 0 trang

tác phẩm vợ nhặt sách giáo khoa 12